MƯA RẮN
Kiệt Tấn
Hò… ờ ơ ơ ớ
Tay cầm sợi lạt
đôi cua
Hỏi em làm mướn (ơ
ờ) một mùa bao (ớ ờ) nhiêu
Hò… ơ ờ ơ ớ
Trời mưa cho luá chín vàng
(ơ ờ )
Cho anh gặt lúa (ơ
ờ)
(chớ) cho anh gặt lúa (mà)
cho nàng đem (ơ ớ) cơm (ờ ơ)
- Khuôn ơi Khuôn! Mầy đâu rồi?
Tiếng kêu trên bờ đê làm chú Ba
giật mình
Chú ngửng đầu lên, ngưng tay
gặt:
- Khuôn ơi! Khuôn à!
Chú đứng thẳng lưng dậy,
nhận ra tiếng kêu của ba mình, ngó dáo dác. Ông
Đương mặc bộ ba đen, đầu quấn
khăn ô vuông, tay kẹp cây dù dưới rách, râu dài
dưới cằm phất phơ trong gió nóng, ông
đứng gần gốc trâm bầu chỗ hôm
trước thím Ba nằm chuyển bụng. Chú khoát khoát tay
ra hiệu rồi bỏ gặt chạy về phía ba mình.
- Dạ, ba tới lâu chưa?
- Tao tới nãy giờ mà mắc đi lòng
vòng kiếm mầy. Tao nghe người ta nói mầy nhắn
tao ra đây, tao đi kiếm. Sao mày không ghé nhà? Mấy
đứa em mầy cứ nhắc mầy hoài.
- Dạ… dạ… tại tui kẹt phải
gặt gấp gấp cho kịp nên hổng có huỡn mà ghé
ba đặng.
Chú Ba nói trớ. Chú đưa tay bới
lại cái bí bo phía sau đầu đã sút sổ khi chú rút
cái khăn quấn xuống lau mồ hôi ngực. Vai chú nóng
rát:
- Ba vô chỗ bóng cây mà đứng cho mát.
Bữa nay mắc mớ gì mà nóng quá xá cỡ.
Trên cao một con chim thầy bói đứng
yên tại chỗ, như bị hơi nóng đóng dính
cứng trên trời xanh không bợn chút mây.
- Trời có nóng như vầy lúa mới chín
tốt và thơm! Có đập ra cũng dễ, cọng
rơm đã dòn sẵn
Sực nhớ ra điều gì, ông
Đương vụt chuyển sang hỏi:
- À, còn con vợ mầy đâu hổng
thấy? Bộ nó gặt ở ruộng khác hả?
- Dạ hổng có.
Ông Đương lo lắng:
- Hay nó bị bịnh? Đàn bà bụng mang
dạ chửa phải coi chừng cẩn thận. Mày
đừng có hờ ơ lắm nghe, nhứt là con so.
- Dạ tui đâu có dám thờ ơ ba.
Vợ tui… vợ tui nó đẻ… Dạ, vợ tui nó
đập bầu rồi.
- Ý trời! Mới thấy nó chửa
đây mà đã đập bầu rồi!
- Dạ, vợ tui nó đẻ non ba à.
Ông Đương lúc lắc vai chú Ba:
- Sanh hồi nào? Có sao không?
- Dạ, sanh được ba bữa nay,
ở cù lao Ông Chưởng. Mẹ con nó cũng
được vuông tròn, tuy vợ tui có hơi mệt vì
mới sanh con đầu lòng.
- Rồi mầy bỏ nó ở bển cho
ai?
- Dạ, tui nhờ thiếm Tư ở
lối xóm ngó chừng dùm.
Lòng ông Đương se lại. Tay ông run
run mân mê chòm râu bạc, trong bụng bứt rứt:
- À! Mà sanh con trai hay gái?
- Dạ, con trai ba à.
Mắt ông Đương rực sáng:
- Con trai
hả? Vậy thì có đứa nối dõi dòng họ Lê
rồi! Chèn ơi! Vậy mà mầy hổng cho tao hay
sớm, thiệt là tệ quá!
Chú Ba chưa biết trả lời sao, ông
già chú nói tiếp:
- Mầy chở tao đi thăm nó coi, tao
nóng ruột quá! Đi liền bây giờ đi.
- Dạ! Tui đi rồi bỏ công
đất này cho ai gặt? Tui bây giờ phải gặt
luôn cho vợ tui. Thôi để bữa khác đã ba à.
Một cơn gió trốt chợt nổi lên
xoáy trên đám lúa ào ào. Ông Đương vịn cái khăn
trên đầu sợ bay mất.
- Cái thằng nầy nói mới kỳ. Cháu
đích tôn của tao mà mầy biểu để bữa
khác.
Ông ngẫm nghĩ:
- Thôi được rồi. Mầy
để đó ngày mơi tao biểu con Thung với
thằng Dung, hai đứa em mầy ra gặt tiếp tay
cho mầy. Tụi nó bây giờ cũng đã biết
mần ăn…
- Tui thấy kỳ quá ba à. Tui là anh đáng
lẽ tui giúp tụi nó mới phải, chớ đâu có
lợi dụng tụi nó vậy kỳ cục quá! Thôi ba
chờ ít bữa nữa tui có rảnh…
Ông Đương gắt giọng.
- Chờ… chờ cái khỉ khô gì? Tao nói
để con Thung với thằng Dung nó tiếp. Mầy mà
nói lộn xộn tao đập cán dù lên đầu mầy
bây giờ.
Biết ba mình nổi giận, chúa Ba giả
lả:
- Thôi ba biểu sao tui hay vậy. Để
tui gom lúa mới cắt bó lại đã rồi đi.
- Mầy để đó ngày mơi hổng
được sao? Tao nóng ruột muốn chết mà
mầy cứ cù nhầy.
- Dạ, thôi thì đi.
Chú Ba nhảy phóc xuống ruộng, chạy
băng băng đạp lên mấy gốc rạ.
- Khuôn! Khuôn! Mầy chạy đi đâu
vậy? Bộ hổng đi hả?
Chú ngoái lại:
- Tui đi lượm cái lưỡi hái
đã. Bỏ đây rủi mất ngày mơi biết
lấy cái gì mà mần tiếp.
Chú xỏ lên mình cái áo thung đã sờn rách,
tay cầm lưỡi hái trở lại chỗ ông
Đương đang đứng:
- Thôi mình đi đi ba.
Chú ngó xuống chợt để ý chưn
của ba mình bữa nay có vẻ khác lạ. Hai bàn chưn
ông bó trong hai miếng mo cau, xỏ lên đôi guốc vuông.
Đi ra ruộng mà mang guốc, thiệt là dị hụ, ít
khi thấy. Bị vướng víu ông Đương không
thể đi lẹ được. Đi mấy
thước ông lại kêu chú:
- Khuôn! Mầy thủng thỉnh chờ tao
với.
Chú không dằn được tò mò, lên
tiếng hỏi:
- Bàn chân ba bị gì mà bó kín mít vậy?
Lại còn mang guốc Bộ ba bị ghẻ hả?
- Hổng phải. Tao sợ bị rắn
cắn.
Chú không khỏi xịt cười. Ông
Đương đâu phải là người nhát gan, ông
vốn giỏi võ nghệ, nhứt là đánh côn. Có lần
ông đã vác côn đơn thân độc mã nửa đêm
xông xáo đến giải vây cho thằng Ba Song Phi,
đệ tử ruột của mình, và đánh tan bọn
ăn cướp bóc nhà thầy Bang cách đây năm, sáu
năm. Vì vậy thầy Bang rất nể nang ông và có
lần ngỏ ý muốn mời ông truyền võ nghệ cho
cậu Út. Nhưng vốn không thích gần gũi bọn nhà
giàu nên ông một mực từ chối. Ông biết mình nóng
tánh, sợ có ngày nổi xung, ông khện cho cậu Út
một hèo ẹo xương sống. Đánh ăn
cướp không sợ, mà bây giờ sợ rắn cắn
mới thiệt là kỳ. Ở vườn ai mà không
biết sợ bị rắn cắn, nhưng có ai bó chân
dị hụ như vậy đâu.
Cũng biết mình có vẻ kỳ cục,
nên ông Đương lên tiếng cắt nghĩa:
- Mẹ tổ mầy đừng có
cười tao. Không phải tao sợ rắn cắn đâu
mà là tao sợ bị rắn trả thù.
- Trả thù
Ông Đương lập lại:
- Ờ phải, tao sợ rắn trả
thù.
Chú Ba đi chậm lại cho ông già theo
kịp.
- Số là cách đây hơn mười
bữa tao phát cỏ sau vườn, chém nhầm con rắn
hổ mây đứt mất cái đầu. Chừng nào
cỏ lòi ra cái mình rắn tao mới biết. Tao hoảng
hồn cởi cái áo đang bận bỏ ở góc vườn
để dụ nó. Tao mang guốc lấy mo bó cẳng ra
cào tiếp để kiếm cái đầu rắn hổ
mà không thấy đâu. Tao trở lại lấy cây sào dở
cái áo lên cũngkhông thấy đầu rắn núp trong
đó. Thường thì nó đánh hơi chun vô nằm
chờ cắn trả thù. Mầy còn nhớ cái vụ
rắn trả thù chớ?
- Dạ nhớ chớ Ba. Ba có kể cho tui
nghe cái vụ chú Tư hồi đó cũng đi phát cỏ
chém đứt con rắn mà không để ý đề phòng.
Sau mấy bữa bị rắn trên mái nhà rình nhảy
xuống cắn sôi bọt mồm cứu không kịp.
- Ờ tao cũng sợ như vậy nên
kể từ bữa đó mỗi lần từ trong nhà
bước ra hay bước vô gì tao cũng đội cái
nia trên đầu để hứng rủi ro cái
đầu rắn nhảy xuống cắn. Còn đáng
sợ hơn nữa là bữa hôm sau dì mầy
đương nấu cơm dưới bếp chợt la
lên: “Rắn! Rắn!” Tao chạy xuống thấy trong
đống củi có cái đuôi rắn ló ra ngúc ngoắc.
Chú Ba chắc lưỡi:
- Chà! Ghê quá hả? Rồi ba làm sao?
- Tao kêu mọi người dang tránh ra.
Rồi bất thần tao nắm đuôi con rắn giựt
thiệt lẹ, quay một vòng rồi đập
đầu nó xuống đất. Tao đập nó mấy
lần như vậy chết ngắc, nó không kịp
cắn. Té ra đó là con rắn hổ mây cái, chắc là
một cặp với con đực tao phát đứt
bữa trước. Tao độ nó muốn núp để
cắn tao trả thù cho con kia. Tao chặt cái đầu nó
ra bằm nát rồi bỏ vô lửa đốt cháy tiêu.
- Nhưng còn cái đầu con đực kia
ba mới tính làm sao?
- Đâu biết nó ở đâu mà tính.
Bởi vậy nên tao mới lo. Tao đốn hai cây
chuối sau nhà cắt ra tấn hai bên mùng, sợ tối
ngủ nó chun vô cắn bất tử không biết
đường đâu mà rờ.
Chú Ba chợt lo ngay ngáy, ngó xuống bàn chân
trần của mình. Lòng bàn chân chú xót xót như có gai chích. Chú
rán đi lẹ lẹ cho mau ra tới bờ sông. Chú chỉ
chiếc xuồng ba lá:
- Ba xuống trước đi, để
tui bơi cho.
Ông Đương nhảy xuống khoang,
xuồng lúc lắc, chú Ba níu tay ông già.
- Ba thủng thỉnh, gấp quá coi
chừng lật xuồng chìm bây giờ.
Ông Đương giựt tay lại:
- Mầy để thây kệ tao. Bộ
từ nhỏ tới giờ tao chưa biết đi
xuồng hay sao mà mầy còn dặn dò? Mẹ tổ!
Ông chụp lấy bẹ chuối trong khoang
tát nước ra ngoài xuồng:
- Thôi mày nhổ giầm đi.
Chú Ba xô xuồng ra khỏi bờ. Trong
xuồng nước còn lĩnh bĩnh, bên trên nổi lêu bêu
một cây giầm. Ông già tát nước thêm một hồi
nữa rồi buông bẹ chuối cầm lấy mái
dầm day ra sau nói lớn:
- Mầy bơi lái, tao bơi mũi cho mau.
Ông lột guốc quăng vô khoang.
Dưới sức đẩy của hai dầm bơi,
xuồng phăng phăng xẻ nước. Trên thinh không
bổng xé một tiếng trời gầm. Mây đen
nghịt từ phía bên kia cù lao
chợt kéo tới ùn ùn như khói bốc ra từ một
đám cháy lớn, cuồn cuộn, hung hãn. Một lằn
chớp xẹt, mặt nước ở cuối cù lao
phựt lên sáng giới, tiếp theo tiếng xé của kim
khí muốn tét lỗ tai. Giọng gầm gừ nhỏ dần,
văng vẳng. Rồi một tiếng kim khí khác vụt
xuống, thịnh nộ. Lũ quạ bay chấp chới
trong cơn cuồng phong đang lốc tới, oang oác kêu
vang dậy. Bầy le le trên mặt sông hụp lặn
xuống mặt nước mất dạng. Trời ám
tối mau lẹ. Ông Đương day lại thúc giục:
- Mầy bơi mau mau, coi chừng bão
rớt.
Sóng bắt đầu nổi dậy,
đập vào xuồng lắp tắp. Thỉnh thoảng
xuồng nhảy cỡn lên. Ông Đương xô dề
lục bình vừa tấp vô mũi xuồng. Dưới làn
nước phù sa đục ngầu ông chợt thấy
một vệt đen bầu dục trôi lờ đờ
xáp lại gần xuống, một vật gì như thể…
như thể…
- Rắn!!!
Ông Đương hét một tiếng
lớn.
Tiếng hét làm chú Ba giựt bắn
người, chới với, thiếu chút nữa té
ngửa xuống sông. Chú thấy ông già dơ mái giầm lên
cao xáng xuống nước, nước văng tung tóe.
Một vật dài, đen, lớn lộn người trên
làng sóng đục ngầu rồi lặn biến
dưới mặt sông khép kín.
- Mầy đưa mái giầm cho tao! Lẹ
lên!
Ông Đương tiếp tục la
lớn. Chú hoảng hồn chồm người tới. Ông
già giựt lấy mái giầm trên tay chú rồi dùng cả
hai giầm gắp vật đèn hình bầu dục bỏ
lên khoang xuồng. Đó là một cái đầu rắn
sắp rã, sớ thịt te tua xung quanh, hai nanh nhọn ló ra
ngoài quặp xuống, đôi mắt tròn trắng
đục lờ đờ. Chú Ba rùng mình. Ông
Đương lên tiếng.
- Mẹ tổ! Mầy đây hả?
Mầy theo trả thù tao phải không? Mầy còn…
Một tiếng sét xé trời đen
nghịt, dìm lời ông Đương trong tiếng
loảng xoảng của kim khí va chạm. Ông
Đương ngó chú Ba:
- Nó nhờ thầy nó là con rắn
nước tha đầu nó theo báo thù tao đây mà. Trời
ơi! Thiệt may mà tao ngó thấy.
Một lằn chớp xẹt xuống
mặt nước. Chú Ba vội úp hai bàn tay lên lỗ tai.
Tiếng sét nhỏ dần. Mưa bắt đầu rơi
lắc rắc. Trong khoang xuồng chiếc đầu
rắn bầy nhầy nổi lình bình, đôi mắt
trắng dã ngó ông Đương khiến ông chóng mặt,
gai ốc nổi cùng mình. Đầu rắn vụt cử
động lội tới, miệng mở hoác, hai nanh
nhọn chợt rớt xuống, nọc đen rỉ ra,
đôi mắt thôi miên ngó ông trao tráo. Ông lấy giầm
đẩy đầu rắn lui ra phía sau. Xuồng nhồi
sóng tròng trành, đầu rắn tưởng chừng
như vụt lội tới nữa, rồi lại lui
về phía sau lấy trớn… Chú Ba vội rút cẳng lên,
ngó đầu rắn trân trân. Một hồi chú lên
tiếng:
- Nó chết thiệt rồi ba à!
Ông Đương lấy lại bình
tĩnh, đưa mái giầm lại cho chú Ba:
- Mầy bơi rút rút đi. Mưa tới
rồi đó. Để nó đó cho tao liệu.
Ông tháo mo cau ở chân mình, xé ra hai tép bên bìa để làm dây. Ông
lấy tàu mo ốp đầu rắn lại, quấn dây
xung quanh thành một bịch nhỏ, cầm đôi guốc
vông dằn lên tấm ván nối liền hai be xuồng bên
trên. Ông chụp lại mái giầm ngoáy xuống lượn
sóng đục đang xô vào mũi xuồng, bơi tiếp.
Mưa vụt ào xuống một loạt, gió thổi
thổi ù ù rồi thoắt ngưng ngang. Mây loãng ra, một
đám mây khác đen nghịt cuồn cuộn kéo tới,
mưa lại vụt ào xuống đập rát vào mặt.
Mưa vụt ngưng. Một vệt nắng xé mây chạy
thoăn thoắt từ giữa sông tiến vô cù lao,
biến mất. Trời đen kịt, gió thổi mạnh
hơn.
Hai cha con gầm đầu xoáy mái dầm
xuống nước liên tu như hai cánh quạt. Gió
ngược vụt đổi hưởng đẩy
xuồng phăng phăng tiến về phía cù lao. Chú Ba la
lên:
- Ba đừng lo! Sắp tới rồi.
Trước mũi xuồng, mấy
đầu le le chợt ló lên, lố nhố trên mặt
nước, kêu lép kép. Xuồng trờ tới, mấy
chấm đen hụp xuống biến mất. Một thân
cây còn rễ tua tủa theo gió đẩy rấn mạnh vô
hông khiến xuồng muốn lao chao muốn lật nhào.
- Khuôn! Mầy coi chừng!
Chú Ba vội đưa mái giầm chống
thân cây ra, lái xuồng đổi hướng, xuồng
nằm xuôi theo thân cây, rễ cạ vào hông xuồng rào rào,
thân cây theo ngọn nước xoáy một vòng rồi
cuốn đi băng băng, nhánh rễ nhấp nhô dần
dần xa khuất. Xuồng vừa cặp vào cầu
dừa, mưa đổ ào xuống như xối
nước. Khắp mặt sông lớn không còn thấy sóng
dợn. Giọt mưa dội xuống mặt sông lỗ
chỗ, bụi nước nẩy tưng bao trùm bốn
phía phù sa một làn khói mỏng như sương, mờ
mịt, bâng khuâng, nhung nhớ…
Ông Đương vừa bước lên
cầu dừa đã dụm chân nhảy phóc lên trên
đất liền, ngó lại hối.
- Lẹ lên đi mầy! Tao đi
trước à nghe!
Ông tất tả chạy đi! Chú Ba lật
đật neo xuồng hấp tấp rồi bươn
bả chạy theo. Ông Đương xô tiếp cửa
bước vô chòi cất tiếng hỏi trỏng:
- Đâu? Đâu? Thằng nhỏ đâu?
Thím Ba đang nằm thiêm thiếp trên chõng
tre giựt mình ngơ ngác. Lúc đó chú Ba vừa theo kịp,
bước vô chòi:
- Mình à! Có ba tới.
Thím Ba gượng gạo chống hai cùi
chỏ cố ngốc đầu dậy nói yếu ớt:
- Dạ thưa ba mới tới.
Chú Ba vặn lớn ngọn đèn hột
vịt ở đầu giường cho có thêm ánh sáng.
- Ờ, ba mới tới. Con mạnh
giỏi? Còn thằng nhỏ đâu?
Thím Ba vén một góc mền lên:
- Nó đây nè ba.
Một khối đen khối đen
nằm cạnh thím Ba, bất động. Chú Ba cầm cây
quạt mo lom khom quạt lò lửa dưới chõng. Ông
Đương luồn hai tay trên chiếu. Bỗng ông
rụt về, chùi vội vàng hai bàn tay ướt lên góc
mền rồi lại luồn hai tay bợ thằng nhỏ
lên. Nó nằm gọn lõn trong lòng bàn tay trái của ông. Có chút
xíu. Ông quì gối bên cạnh chõng, cúi mặt nhìn khối
đen nhỏ nằm trong lòng bàn tay mình, phía trên le hoe một
chút tóc măng thưa rỉnh, mỏ ác phập phều. Chú
Ba cầm ngọn đèn dầu đưa lại gần.
Ông Đương ngó thấy tấm vải đắp trên
bụng nhấp nhô theo hơi thở của đứa
nhỏ. Tay ông run run. Đời sống ông, dòng máu ông
đang tiếp tục chảy kìa. Đó!
Ông đưa hai ngón tay nhẹ giở
miếng khăn đắp. Đứa nhỏ đỏ
hỏn. Ông lắp bắp:
- Trời ơi! Cháu đích tôn của
nội đây sao?
Da bụng đứa nhỏ mỏng tanh
như tờ giấy quyến. Ruột gan ẩn hiện
lờ mờ bên dưới. Nó thở. Ông Đương
thì thầm:
- Ông nội nè con! Trời ơi, cháu nội
của ông sao có chút xíu, tội nghiệp quá chừng!
Nước mắt ông ứa ra, từ
từ lăn xuống gò má nhăn nheo, ngập ngừng trên
các đường hũng khuyết rồi theo chòm râu dài
nhểu xuống bụng đứa nhỏ. Nó cục
cưa oe oe mấy tiếng. Ruột dưới làn da
mỏng nhúc nhích ngó thấy.
Ông vội đắp tấm vải lại, cúi
xuống tính hun cháu nội mình, nhưng nó nhỏ quá, không
biết đặt mũi mình lên ở chỗ nào. Chòm râu hoe
bạc run run dưới sự cảm xúc. Nước
mắt ông lại trào ra. Đứa cháu đầu lòng
của ông, đứa cháu đích tôn của ông, nó đó,
gọn lõn trong lòng bàn tay chai cứng của ông, quá sức
mong manh, nhỏ nhít. Giọng ông nghẹn ngào:
- Nội nè con!...
Đôi mắt đứa nhỏ nhắm
nghiền. Ông vuốt chòm râu ướt dưới cằm.
Chú Ba cảm thấy cổ mình se thắt như thể
nuốt nắm cơm quá vội. Chú chưa hề thấy
ba mình khóc bao giờ. Cũng chưa bao giờ thấy ông
quì gối, trừ phi lạy trước bàn thờ ông bà.
Mắt ông già lấp lánh như sóng gợn dưới
trăng. Người đàn ông già nua đương nâng niu
đời sống mong manh trong lòng tay mình bồi hồi. Thím
Ba xịt mũi. Ông già để đứa nhỏ lại
chỗ cũ, gần bên vú mẹ nó, kéo mền đậy
lại, vẹt một góc chừa hơi cho nó thở. Ông
đứng dậy, nói với thím Ba:
- Con nhớ úm thằng nhỏ cho nó ấm
nghe con. Ờ… nãy giờ quên má thằng nhỏ. Con thấy
trong mình ra sao?
Thím Ba lại xịt mũi, đưa tay
quệt nước mắt:
- Dạ con cũng khỏe, ba đừng lo
cho con. Con chỉ lo cho ba thằng nhỏ, sợ ảnh
một mình gặt không xuể ruộng đã lãnh của
thầy Bang.
- Ối! Tưởng gì chớ cái đó ba
đã tính với nó rồi. Ngày mơi biểu con Thung
với thằng Dung ra tiếp nó.
Thím Ba thở hắt ra nhẹ nhõm:
- Dạ, nếu được vậy thì
vợ chồng tụi con xin cảm ơn ba và hai em
lắm. Con bây giờ bị kẹt thằng nhỏ…
Ông Đương ngắt ngang:
- Thằng nhỏ… thằng nhỏ? Chớ
tụi bay đặt nó tên gì?
Chú Ba ứng tiếng:
- Dạ… dạ chưa đặt tên.
Vợ chồng tui chưa đặt tên cho nó. Bữa
trước con vợ tui thiếu chút nữa đẻ
rớt nó ngoài ruộng, bởi vậy tui tính đặt tên
nó là thằng…
thằng Ruộng, nhưng còn chờ để hỏi
lại ba, hổng biết ba…
- Ý, trời! Mầy đặt cái tên
Ruộng nghe sao đặng. Cái tên đó ở miệt nhà
quê người ta đặt thiếu gì. Thằng Ruộng,
thằng Rẫy, con Xoài, con Cam… đặt tên trùng nhau tùm
lum. Phải lựa cái tên gì cho hay một chút. Mầy
thấy hồi đó tao tính sống đời nhàn nhã nên
mới đặt tên tụi bây là “Trước Khuôn Thung
Dung” đáng lẽ Dung là tên con gái, ai dè má mầy đẻ
con trai, lỡ rồi tao đặt luôn tên đó cho
thằng Năm Dung.
Ông vuốt nước trên áo rồi nói
tiếp:
- Tưởng là đã hết, dè đâu má
mầy cứ theo đà năm một đẻ nữa nên
ta cho tiếp theo “Thung Dung” là”Hưỡn Đãi”, từ từ, chậm
chậm…
Ông ngần ngừ một lúc:
- Kế tới dì mầy, sang một
lớp khác. Vì vậy tao mới bắt đầu lại
là”Tân Xuân”, thằng Tân đẻ cặp với
thằng Đãi, rồi tiếp theo “Bằng Cúc”, “Đáo Lai”,
gái trai gì cũng thây kệ. Khi không sửa bất tử
bong trẹo nghe nó không xuôi chèo mát mái.
Mưa tiếp tục đổ rào rào trên
mái chòi lá. Ông cảm thấy lạnh:
- Mầy vấn cho tao điếu thuốc
hút coi Khuôn. Để tao suy nghĩ tìm cảm hứng
đặt tên cho thằng cháu đích tôn của tao.
Chú Ba kê ngọn đèn dầu tới
gần. Ông già gác đầu điếu thuốc lên ống
khói, bập bập, hít một hơi dài rồi le
điếu thuốc dính trên đầu lưỡi. Ông lim
dim:
- Tao thấy vợ chồng tụi bây
mần ăn chưa khá, bởi vậy tao tính lựa cái gì
hay đặng lấy hên một chút cho tụi bây mần
ăn phát đạt với người ta.
Ông bỗng dừng lại trầm ngâm:
- Phát đạt, mần ăn phát
đạt… À, tao thấy hai chữ”phát đạt” nghe cũng lọt lỗ
tai. Lấy hai tên đó mà đặt dành cho con tụi bây,
một đứa tên “Phát”, một đứa tên “Đạt”,
tao thấy đặng lắm đa bây. Mầy thấy sao
hả Khuôn?
- Dạ… đặng chớ ba. Phát! Nghe
đặng lắm… Ờ mà rủi cái đứa thứ
hai nhè con gái mà lãnh cái tên Đạt nghe sợ nó không hạp.
- Ối! Tới đó rồi thủng
thẳng tính sau. Giờ thằng nhỏ đầu lòng
nầy đặt cho nó tên “Phát” cái đã, tụi bây
chịu hông?
Ông Đương ngó chú Ba, chú Ba gật
đầu. Ông day qua ngó thím Ba:
- Còn con nhỏ nầy?
Thím Ba cũng vội vàng gật đầu:
- Dạ, ai sao con vậy. Ba với ảnh
tính sao cũng đặng.
Ông Đương giở góc mền lên,
lấy ngón tay gõ nhẹ lên mỏ ác thằng nhỏ:
- Nột đặt cho con tên là “Phát”, nghe
chưa?
Đứa nhỏ cựa mình ọ ọe.
Ông mỉm cười, râu rung rung trên mép. Ông vuốt râu
cằm:
- Ờ, chịu rồi hả con? Chịu
rồi thì nhớ nữa sau rán mần ăn khấm khá nghe
con! Mần ăn khá đặng nuôi ba má với nuôi nội
lúc tuổi già, nghe chưa?
Ông đậy mền lại day qua chú Ba:
- Mầy ra ngoài nầy tao tính chiện
một chút.
Chú Ba vặn nhỏ ngọn đèn cho
đỡ hao dầu rồi xách cái ghế đẩu
độc nhất trong chòi đi ra phía trước theo ông
già.
- Mời ba ngồi đây, trên ghế
nầy nè.
Chú ngồi chồm hổm cạnh ghế
bắc sát cửa chòi ngó ra. Chú cũng vấn cho mình
điều thuốc rồi xin ông già cho mồi. Khói
thuốc tỏa ra cửa chòi, dội màn nước bên
ngoài, chần chờ một lúc, gió thổi tới cuốn
đi, tan loãng Nước mưa từ mái chòi đổ
xuống mương nhỏ do nước lâu ngày chảy
khuyết thành ra, tia nước rót trên đường
nước đi làm bắn lên những vòng loe rách như
miệng núi lửa. Những giọt nước trộn
với đất ngoài hiên văng lên dính cẳng chú Ba
từng chấm nâu. Ông già gỡ đuôi thuốc dán lên
cột chòi, lên tiếng:
- Khuôn à! Tao thấy tụi bây giờ ở
bên cù lao nầy đơn chiếc quá.
- Dạ…
- Mà mầy lại đi mần ngoài
ruộng tối ngày.
- Dạ… cũng có thiếm Tư lối xóm
qua lại ngó chừng.
- Ậy! Đành như vậy rồi,
nhưng hổng phải bà con thân thích, nhờ hoài nhờ
hủy sao tiện. Mầy có tính trở về ở
gần tao như hồi trước hông?
Chú Ba hít một hơi thuốc, ngó lên ông già
rồi cúi đầu trầm ngâm:
- Dạ, ba phân qua nghe cũng có lý. Tui
cũng có nghĩ tới chiện đó rồi. Nhưng
chắc phải đợi qua hết mùa gặt mới
rảnh tay mà dọn.
Ông già ngó quanh chòi:
- Mầy nói dọn nghe nó rườm rà.
Chỉ cần một buổi là xong hết. Có lo là lo cho
thằng nhỏ… ờ quên, thằng Phát, lúc chở tới
chở lui, chớ nhà cửa tụi bây gọn bân!
Một cọng lá dừa khô từ trên mái
chòi tuôn theo giọt nước rớt xuống, trôi
ngập ngừng trên mương. Mưa nhỏ dần
rồi tạnh. Chú Ba đứng dậy bước ra xòe
tay ngoài trời:
- Mưa tạnh rồi, để tui
đưa ba dìa.
Ông thở dài đứng dậy. Ông
bước tới cạnh chõng tre nói với thím Ba:
- Thôi ba dìa nghe con!
- Dạ ba dìa.
Ông vén mền vuốt mỏ ác thằng
nhỏ:
- Thôi nội dìa nghe con.
Ông nhoẻn miệng móm mỉm cười,
dặn thím Ba:
-Trời mưa, con coi chừng thằng
nhỏ bị lạnh. Thôi ba dìa nghe.
- Dạ…
Hai cha con bước xuống sân, các
đầu ngón châm bấm xuống mặt đất sét
trơn mềm cho khỏi trợt. Ra tới sông, chú Ba ngó
xuống nói:
- Ba chờ tui lắc nước ra khỏi
xuồng cái đã. Mưa ngập xuồng hết rồi.
Chú Ba nhảy xuống sình, bùn lún tới
ống quyển. Xuồng khẩm nước mưa
ngập chìm hơn phân nửa, chỉ còn mũi xuồng ló
lên dính sợi dây buộc vô mái giầm còn cắm đó.
Đôi guốc vông và gói mo cau đã cuốn theo dòng phù sa trôi
tự bao giờ…
Kiệt
Tấn